Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Doanh nghiệp
Skip portletPortlet Menu
 
Du khách
Skip portletPortlet Menu
 
Văn thơ Nam Đàn
Skip portletPortlet Menu
 
liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
Báo cáo Kết quả xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2017 của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (19/12/2017 04:32 PM)

ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

S: 2637/BC-UBND

Nam Đàn, ngày 14 tháng 12 năm2017

 

BÁO CÁO

Kết quả xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2017
của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

 

I. Đặc điểm tình hình chung

1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.1. Điều kiện tự nhiên

Nam Đàn là huyện đồng bằng nửa đồi núi, nằm phía Nam Đông Nam của tỉnh Nghệ An, hạ lưu sông Lam, kéo dài từ 18034 đến 18047 vĩ bắc và trải rộng từ 105024 đến 105037 kinh đông; cách thành phố Vinh 20km về phía tây, cách thủ đô Hà Nội hơn 300km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh hơn 1.400 km về phía Bắc. Ranh giới phía Bắc giáp huyện Đô Lương, phía Nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc, phía Tây giáp huyện Thanh Chương. Tổng diện tích đất tự nhiên là 29.198,91 ha.

Nam Đàn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu tác động trực tiếp của gió Tây Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh ẩm (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau). Nhiệt độ trung bình năm là 24,2 độ C. Lượng mưa trung bình năm là 1.625 mm. Độ ẩm trung bình năm 83,9%.

          Địa hình đặc trưng bao quanh bởi 2 dãy núi Đại Huệ ở phía Bắc và Thiên Nhẫn ở phía Tây tạo ra thung lũng, đồng bằng hình tam giác, có sông Lam chảy dọc theo hướng Bắc Nam, chia huyện thành hai vùng tả ngạn và hữu ngạn sông Lam.

          Về thổ nhưỡng gồm có: Đất cát thô ven sông, diện tích 384 ha; Đất phù sa, diện tích 10.394 ha, thích hợp cho việc canh tác lúa nước và trồng ngô; Đất đỏ vàng, diện tích 11.302 ha, phù hợp trồng cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày; Đất xám bạc màu, diện tích 2.485 ha.

          Về tài nguyên rừng: toàn huyện có 7.816,83 ha đất lâm nghiệp, chiếm 26,58% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó, rừng sản xuất 3.621,41 ha; rừng đặc dụng 4.195,42 ha, chủ yếu là cây thông lấy nhựa.

          1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tốc độ phát triển kinh tế trên địa bàn huyện trong những năm qua luôn ở mức cao, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2011 - 2015 là 11,31%, năm 2017 ước đạt 7,75%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ: năm 2011 cơ cấu kinh tế (công nghiệp xây dựng 20,9%, dịch vụ 29,87%, nông -lâm-thủy sản 49,23%), năm 2017 (ước công nghiệp xây dựng 28,79% , dịch vụ 33,75%, nông-lâm-thủy sản 37,46%).

Hạ tầng kinh tế, xã hội được đầu tư đồng bộ: trụ sở làm việc các ban ngành, trường học, bệnh viện, đường giao thông, trạm y tế, nhà văn hóa được xây dựng, phục vụ tốt nhu cầu của nhân dân trong huyện. Đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt.

Các chính sách về kinh tế và xã hội được quan tâm thường xuyên như: chính sách về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục - thể thao, chính sách về giảm nghèo; thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách ưu đãi cho gia đình có công cách mạng, gia đình thương binh lit s

Toàn huyện 23 xã và 01 thị trấn với 330 xóm, khối (05 xã thuộc địa bàn miền núi; 13 xã có đồng bào theo đạo thiên chúa giáo, trong đó 01 xã giáo toàn tòng). Dân số gần 160.000 người, Đảng bộ huyện có 63 tổ chức cơ sở Đảng, 418 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở với 8.740 đảng viên.

2. Thuận lợi

- Được sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo cũng như hỗ trợ về nguồn lực của Ban chỉ đạo, các bộ ngành Trung ương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các Sở, ban, ngành cấp tỉnh.

- Sự vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt của cấp ủy Đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị từ huyện đến xã, xóm.

- Phong trào xây dựng nông thôn mới được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và đồng thuận; Được sự ủng hộ đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài địa bàn.

3. Khó khăn

- Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình lớn, tổng thể, lần đầu tiên được triển khai trên quy mô cả nước; một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện từ trung ương đến địa phương chưa thực sự thống nhất, chưa phù hợp với tình hình thực tế, phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm và phải điều chỉnh nhiều lần; Công tác chỉ đạo thực hiện bước đầu còn gặp nhiều lúng túng.

- Thực hiện xây dựng nông thôn mới trong điều kiện kinh tế khu vực nông thôn còn khó khăn, đời sống nhân dân còn ở mức thấp.

- Khối lượng các nội dung, tiêu chí nhiều, cần lượng kinh phí đầu tư lớn, trong lúc ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp cho chương trình còn hạn chế. Huy động doanh nghiệp vào lĩnh vực này còn khó khăn, phát huy nội lực từ nhân dân không đủ đáp ứng yêu cầu của chương trình.

- Tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự đầu tư của nhà nước của một số bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân làm ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả thực hiện chương trình.

II. Căn cứ triển khai thực hiện xây dựng huyện nông thôn mới

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;

Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủvề việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Thông tư 35/2016/TT-BNNPTNT ngày 26/12/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện tiêu chí huyện đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;

Quyết định số 372/QĐ-TTg ngày 14/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc xét công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới; Thông tư số 40/2014/TT-BNNPTNT ngày 13/11/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư Hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới;

Nghị quyết số 100/2015/QH13, ngày 12/11/2015 của Quốc Hội khóa XIII về việc phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình Mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2016-2020;

Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/08/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;

Quyết định số 1760/QĐ-TTg ngày 10/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ về điều chính, bổ sung quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020;

Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Tiêu chí huyện nông thôn mới và Quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới;

Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành tiêu chí quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;

Quyết định số 2540/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, địa phương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;

Quyết định số 3875/QĐ-UBND ngày 31/8/2010 của UBND tỉnh Nghệ An về phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2020;

Quyết định số 1166/QĐ-UBND ngày 23/3/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành các nội dung, tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới của tỉnh Nghệ an giai đoạn 2016 – 2020;

Quyết định số 6076/QĐ-UBND ngày 02/12/2016 của UBND tỉnh Nghệ An về Phê duyệt Kế hoạch thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 – 2020;

Nghị quyết số 04-NQ/HU ngày 24/12/2010 của Ban chấp hành Đảng bộ huyệnvề việc thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện Nam Đàn giai đoạn 2010 - 2020;

Quyết định số 2612/QĐ-UBND ngày 15/10/2010 của UBND huyện Nam Đàn về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện Nam Đàn giai đoạn 2010 – 2020;

Kế hoạch số 92/KH-UBND ngày 19/01/2017 kế hoạch và phân công chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới năm 2017.

III. Kết quả chỉ đạo thực hiện xây dựng huyện nông thôn mới

1. Công tác chỉ đạo, điều hành

Ngay sau khi tiếp thu chủ trương về xây dựng nông thôn mới, UBND huyện đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện Nam Đàn giai đoạn 2010 – 2020 do đồng chí Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban. Ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên chỉ đạo tại các xã và theo lĩnh vực chuyên môn phụ trách. Thành lập tổ giúp việc cho Ban chỉ đạo, thành lập văn phòng nông thôn mới do đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách nông lâm làm Chánh văn phòng. Ban hành quy chế hoạt động của Văn phòng nông thôn mới.

Chỉ đạo 23/23 xã thành lập Ban chỉ đạo cấp xã do đồng chí Bí thư Đảng ủy làm trưởng ban, Ban quản lý do đồng chí Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban, Ban giám sát cộng đồng do đồng chí Chủ tịch UBMTTQ xã làm trưởng ban và Ban phát triển thôn tại các xóm.

Hàng năm thành lập các tổ công tác chỉ đạo trực tiếp tại các xã đăng ký về đích trong năm, thành phần các tổ là trưởng, phó, chuyên viên các phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện nhằm đôn đốc, hướng dẫn và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại các xã. Từ năm 2015 đến 2017 đã thành lập 20 tổ công tác, mỗi tổ có từ 5 – 9 thành viên.

Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đã tập trung quán triệt các văn bản của Trung ương, Tỉnh về chủ trương, chính sách, pháp luật trong xây dựng nông thôn mới đến các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trên địa bàn huyện, ban hành các Nghị quyết, Kế hoạch, Chương trình, Quyết định...để triển khai thực hiện; phân công các đồng chí cấp ủy tham gia trực tiếp và bám sát địa bàn để chỉ đạo, hỗ trợ các xã thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.

Huyện ủy ban hành Nghị quyết số 04/NQ-HU ngày 24/10/2010 về việc thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện Nam Đàn giai đoạn 2010 – 2020. UBND huyện ban hành quyết định số 2612/QĐ-UBND ngày 15/10/2010 của UBND huyện Nam Đàn về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện Nam Đàn giai đoạn 2010 – 2020; Trong quá trình chỉ đạo thực hiện ban hành hàng trăm văn bản để triển khai, chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn các xã thực hiện xây dựng nông thôn mới. Hàng tháng Huyện ủy, UBND huyện tổ chức giao ban với các phòng, ngành và các xã để nghe báo cáo tiến độ hàng tháng, từ đó có giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp với từng xã, từng tiêu chí.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng chương trình hành động, kế hoạch để tuyên truyền, vận động các đoàn viên, hội viên tham gia xây dựng nông thôn mới, nhờ vậy đã làm tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng nông thôn mới và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Phong trào thi đua “Toàn huyện chung sức xây dựng nông thôn mới” được hưởng ứng và tổ chức thực hiện nghiêm túc đem lại nhiều kết quả tích cực.

Đảng ủy xã ban hành nghị quyết chuyên đề về xây dựng nông thôn mới, UBND các xã xây dựng đề án, kế hoạch để thực hiện.

2. Công tác truyền thông, đào tạo, tập huấn

a) Công tác truyền thông.

Xác định đây là một trong những nội dung quan trọng, xuyên suốt trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới nhằm làm cho nhân dân hiểu được mục tiêu, ý nghĩa của chương trình xây dựng nông thôn mới cũng như vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới để từ đó vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, tham gia xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, công tác quán triệt triển khai các chủ trương gắn công tác tuyên truyền vận động được quan tâm chỉ đạo thực hiện xuyên suốt. Ngay khi bắt đầu triển khai chương trình cũng như quá trình thực hiện hàng năm, UBND huyện, xã đã tổ chức quán triệt đầy đủ các nội dung về xây dựng nông thôn mới của trung ương, tỉnh, huyện, xã đến cán bộ các cấp, đảng viên và nhân dân. Quan tâm chỉ đạo đài Truyền thanh – Truyền hình huyện, đài phát thanh các xã phát trên hệ thống truyền thanh các Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới như Nghị quyết số 26/NQ-TW; quyết định số 800/QĐ-TTg; Quyết định số 491/QĐ-TTg; Quyết định số 1980/QĐ-TTg; Quyết định số 1600/QĐ-TTg; Quyết định 3875/QĐ-UBND;  Quyết định số 6076/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nghệ An; Nghị quyết số 04/NQ-HU của Huyện ủy Nam Đàn, các chương trình kế hoach cụ thể của huyện, xã…; xây dựng phóng sự, kịp thời đưa tin các cách làm hay, sáng tạo, nêu gương các điển hình tiên tiến trong xây dựng nông thôn mới. Từ năm 2011 đến nay đài Truyền thanh – Truyền hình huyện đã xây dựng được hơn 500 phóng sự, 800 tin bài, 700 chuyên mục và 15 chuyên đề về xây dựng nông thôn mới.

Các hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú như: thông qua hội, họp, tuyên truyền trực quan bằng hệ thống băng rôn, khẩu hiệu, pano, appic, đặc biệt năm 2011, 2012 tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về chương trình xây dựng nông thôn mới, hình thức sân khấu hóa…Trong hơn 6 năm qua toàn huyện đã tổ chức hàng trăm cuộc hội, họp về xây dựng nông thôn mới, treo và kẻ vẽ 4.650 băng rôn, appic, khẩu hiệu viết tường các loại.

Hàng năm UBND huyện và các xã tổ chức long trọng, có chất lượng lễ phát động xây dựng NTM, lễ ra quan xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới, qua đó tạo được không khí sôi nổi, hiệu triệu được mọi tầng lớp nhân dân đồng sức, đồng lòng cùng chung sức xây dựng NTM, phong trào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn được khơi dậy mạnh mẽ.

b) Công tác đào tạo, tập huấn.

Hàng năm tham gia đầy đủ các lớp tập huấn nghiệp vụ cũng như các đoàn tham quan, học tập kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới do tỉnh tổ chức. Đồng thời tổ chức tập huấn nghiệp vụ xây dựng nông thôn mới cho cán bộ cấp xã, xóm; Thành lập các đoàn tham quan mô hình xây dựng nông thôn mới trong và ngoài tỉnh cho cán bộ Ban chỉ đạo huyện, cán bộ cấp xã.

Từ năm 2011 đến nay tổ chức được 20 lớp tập huấn và 7 đợt tham quan học tập mô hình cho 1.016 học viên tham gia, tổng kinh phí 767 triệu đồng.

3. Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

Tổng kinh phí đã thực hiện: 1.503,5 tỷ đồng, trong đó:

- Ngân sách Trung ương: 107,2 tỷ đồng, chiếm 7,13%;

- Ngân sách tỉnh:145 tỷ đồng, chiếm 9,64%;

- Ngân sách huyện:160 tỷ đồng, chiếm 10,64%;

- Ngân sách xã:193,2 tỷ đồng, chiếm 12,85%;

- Doanh nghiệp: 98,5 tỷ đồng, chiếm 6,55%;

- Nhân dân đóng góp: 319,8 tỷ đồng, chiếm 21,27%.

- Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án trên địa bàn: 479,8 tỷ đồng, chiếm 31,9%.

Ngoài ra nhân dân còn hiến 212.355 m2 đất; tháo dỡ, di dời 28.468 m2 tường rào, đóng góp 121.093 ngày công để xây dựng nông thôn mới.

IV. Kết quả xây dựng nông thôn mi của huyện

1. Số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo quy định:

- Tổng số xã trên địa bàn huyện: 23 xã

- Số xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới: 23 xã

- Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới: 100%.

2. Một số kết quả chủ yếu xây dựng nông thôn mi của các xã:

2.1. Công tác lập quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch

Ngay sau khi tiếp nhận chủ trương của Trung ương, của tỉnh Nghệ An về thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, Nam Đàn đã tổ chức điều tra hiện trạng nông thôn và chỉ đạo UBND các xã hợp đồng với các đơn vị tư vấn để lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Quy hoạch nông thôn mới tại các xã được lập theo hướng dẫn tại công văn số 1750/SXD.QHKT ngày 22/10/2010 của Sở Xây dựng Nghệ An về việc tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An và được điều chỉnh, bổ sung theo quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 của liên Bộ: Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới. Đến tháng 12 năm 2011 quy hoạch xây dựng nông thôn mới của 23/23 xã được UBND huyện Nam Đàn phê duyệt. Sau khi quy hoạch được phê duyệt, UBND các xã đã tổ chức công bố, công khai, niêm yết bản đồ quy xây dựng nông thôn mới tại trung tâm xã và nhà văn hóa các xóm để nhân dân biết và thực hiện, đồng thời lập kế hoạch và tổ chức cắm mốc thực địa theo quy hoạch đã được phê duyệt. UBND các xã đã xây dựng quy chế quản lý quy hoạch trình UBND huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện, quản lý quy hoạch theo quy chế.

Kinh phí đã thực hiện trên 3,45 tỷ đồng.

2.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu:

Phát huy nội lực từ nhân dân, đồng thời tranh thủ sự đầu tư hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp, lồng ghép từ các chương trình, dự án trên địa bàn. Trong hơn 6 năm qua, toàn huyện đã xây dựng mới, nâng cấp nhiều công trình hạ tầng quan trọng, cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư khá đồng bộ, cụ thể như sau:

- Về giao thông:

+ Đường trục xã, liên xã: Đã nhựa hóa, bê tông hóa 200 km, nâng tổng số km đường trục xã, liên xã đạt chuẩn là 220/220 km, đạt 100%. Kinh phí thực hiện 356,2 tỷ đồng.

+ Đường trục thôn, xóm: Đã cứng hóa được 403,5 km/445,5 km, đạt tỷ lệ 88,6%. Kinh phí đã thực hiện là 213,7 tỷ đồng.

+ Đường ngõ xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa: Đã cứng hóa 119/143 km, đạt  tỷ lệ 83,2 %, đường ngõ xóm sạch không lầy lội vào mùa mưa đạt 100%. Kinh phí đã thực hiện 106,8 tỷ đồng.

+ Đường trục chính nội đồng: Thời gian qua đã cứng hóa 457,7/630 km (đạt 72,65%). Kinh phí thực hiện 35,61 tỷ đồng.   

Đến nay có 23/23 xã đạt tiêu chí giao thông, tỷ lệ 100%.

- Về thủy lợi: Nâng cấp, tu sửa 85,9 km kênh mương, 17 trạm bơm, 11 hồ đập và hàng ngàn cống nội đồng. Kinh phí đã thực hiện là 147,5 tỷ đồng.

Đến nay có 23/23 xã đạt tiêu chí thủy lợi, tỷ lệ 100%.

- Về trường học: Xây mới 38 trường học cao tầng với 314 phòng học các cấp, kinh phí đã thực hiện 175,88 tỷ đồng.

Đến nay, có 23/23 xã đạt tiêu chí Trường học, tỷ lệ 100%.

- Về điện nông thôn:  Nâng cấp, thay thế hệ thống đường dây điện, trạm biến áp tại 23/23 xã. Kinh phí thực hiện 46,1 tỷ đồng. Đến nay 23/23 xã đạt tiêu chí về điện, tỷ lệ 100%.

- Về trạm y tế: Xây mới, nâng cấp 17 trạm y tế tại các xã: Nam Nghĩa, Nam Hưng, Nam Thanh, Vân Diên, Hùng Tiến, Xuân Lâm, Nam Xuân,Nam Lĩnh, Nam Giang, Kim Liên, Nam Cát, Nam Thượng, Nam Tân, Khánh Sơn, Nam Trung, Nam Cường, Nam Kim. Kinh phí đã thực hiện 47,23 tỷ đồng. Đến nay, có 23/23 xã có Trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ 100%.

- Trụ sở UBND xã: Xây mới 18 trụ sở làm việc tại các xã: Nam Hưng, Nam Thái, Nam Nghĩa, Nam Thanh, Vân Diên, Hùng Tiến, Hồng Long, Xuân Lâm, Nam Xuân, Nam Lĩnh, Kim Liên, Nam Thượng, Nam Tân, Khánh Sơn, Nam Trung, Nam Phúc, Nam Cường, Nam Kim, tổng kinh phí thực hiện 88,15 tỷ đồng. Nâng cấp Trụ sở làm việc xã Nam Cát, kinh phí thực hiện 2 tỷ đồng.

- Về cơ sở vật chất văn hóa: Xây mới 15 nhà văn hóa xã, gồm: Nam Hưng, Nam Nghĩa, Nam Thanh, Vân Diên, Xuân Hòa, Hùng Tiến, Hồng Long, Xuân Lâm, Nam Xuân, Nam Lĩnh, Nam Lộc, Khánh Sơn, Nam Phúc, Nam Cường, Nam Kim. Kinh phí đã thực hiện 42,19 tỷ đồng; Nâng cấp nhà văn hóa xã Nam Cát, kinh phí 2,7 tỷ đồng, nhà văn hóa xã Nam Giang 800 triệu đồng; đồng thời xây mới, nâng cấp 320 nhà văn hóa xóm, 89 sân thể thao xóm, kinh phí 22,8 tỷ đồng.

Đến nay có 23/23 xã đạt tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa, tỷ lệ 100%.

- Về chợ nông thôn: Xây mới, nâng cấp 11 chợ gồm: chợ Chùa xã Nam Anh; Chợ Cầu xã Kim Liên; chợ Rọ xã Nam Kim; chợ Nam Lộc; chợ Vạc Nam Lĩnh; chợ Nam Thái; chợ Sen Vân Diên; chợ Tro xã Xuân Hòa, chợ Ba Hàng Nam Nghĩa, chợ Rồng xã Nam Trung, chợ Sáo xã Nam Giang với tổng kinh phí là 84,5 tỷ đồng trong đó ngân sách xã, huyện, tỉnh lồng ghép từ các chương trình đầu tư 21,5 tỷ đồng, nhà đầu tư theo hình thức BT là 63 tỷ đồng đầu tư chợ Sen xã Vân Diên (trung tâm thương mại) và chợ Vạc xã Nam Lĩnh. Đến nay có 23/23 xã đạt tiêu chí về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, tỷ lệ 100%.

2.3. Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân:

- Về nông, lâm nghiệp, thủy sản:

Tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đúng hướng, trong những năm qua các xã đã xây dựng được nhiều mô hình cho hiệu quả khá như: mô hình bí đỏ xã Nam Trung, mô hình Rau mầm xã Nam Cát, mô hình rau màu tại xã Nam Anh, Nam Xuân, mô hình nuôi dê sinh sản tại các xã Nam Hưng, Nam Thái, Nam Nghĩa, Nam Thượng, Nam Lộc ....và đặc biệt năm 2017 đã xây dựng được một số mô hình rau theo tiêu chuẩn VietGAP tại các xã Nam Thanh, Vân Diên, Xuân Hòa....

Chăn nuôi tiếp tục có bước phát triển khá, ổn định tổng đàn, tăng sản lượng xuất chuồng năm sau cao hơn năm trước. Hình thức chăn nuôi đa dạng, chăn nuôi trang trại được phát triển. Trên địa bàn huyện có 803 trang trại và các loại hình như trang trại, trong đó có 43 trang trại đạt chuẩn theo thông tư 27 của Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Về lâm nghiệp: Hàng năm hoàn thành kế hoạch trồng rừng tập trung và cây phân tán, tổ chức tốt phong trào trồng cây đầu xuân. Làm tốt công tác bảo vệ, PCCCR. Hàng năm khai thác trên 640 tấn nhựa thông.

Về thủy sản: Ổn định diện tích nuôi trồng thủy sản trên 1.810 ha, tập trung đầu tư và phát triển một số mô hình cho hiệu quả tốt như: mô hình nuôi cá leo lồng tại xã Nam Lộc, mô hình nuôi cá truyền thống tại xã Nam Tân, Nam Thanh; mô hình ươm nuôi cá giống tại xã Xuân Hòa...

- Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ:

Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp tiếp tục được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, các sản phẩm có lợi thế tiếp tục được khai thác, các dự án đầu tư SXCN đi vào sản xuất ổn định. Nhà máy bia Sài gòn Sông Lam, nhà máy may xuất khẩu HAIVINA Kim Liên, Công ty Vn Nam Đàn Vạn An đi vào hoạt động ổn định tạo việc làm cho trên 3000 lao động. Các làng nghề được duy trì và phát triển.

Các loại hình Dịch vụ thương mại phát triển khá, có thêm nhiều cơ sở và mặt hàng mới; số cơ sở và lao động dịch vụ thương mại tăng. Công tác quản lý thị trường, giá cả được duy trì khá tốt. Công tác quảng bá xúc tiến du lịch được quan tâm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Hoạt động dịch vụ Tín dụng, Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho SXKD và Xuất khẩu lao động.

- Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 của huyện là 32 triệu đồng/người/năm, năm 2017 là 36 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 là 4,0%, năm 2017 là 3,5%.

2.4. Về phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường:

- Về giáo dục: Chất lượng giáo dục toàn diện được quan tâm, tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi đạt 100%. Giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS. Đến nay 54/78 trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ 69,2%. Trong đó có 11 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2.

  Công tác xã hội hoá giáo dục tiếp tục thực hiện có hiệu quả, hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, quỹ khuyến học huyện, xã, cơ quan, dòng họ ngày càng được phát huy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

- Về y tế: Chỉ đạo, thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, không để dịch bệnh xẩy ra trên địa bàn. Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực trong cải cách hành chính, tinh thần thái độ phục vụ cũng như chất lượng chuyên môn được nâng lên cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân nhân trên địa bàn và một số huyện vùng phụ cận. Chỉ đạo quyết liệt công tác bảo đảo vệ sinh an toàn thực phẩm hàng năm tổ chức tập huấn, tuyên truyền pháp luật cho các cá nhân, cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến, giất mổ... và lãnh đạo, cán bộ làm công tác quản lý. Tổ chức rà soát, ký cam kết ATTP. Tổ chức kiểm tra định kỳ và các đợt kiểm tra đột xuất việc chấp hành các quy định pháp luật của nhà nước về ATTP của các cá nhân, cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh, kiểm tra việc quản lý nhà nước về ATTP tại các xã, thị trấn.

Quan tâm chỉ đạo việc xây dựng xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, đến nay có 24/24 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia y tế theo Quyết định 4667/BYT. Tỷ lệ người dân tham gia BHYT: 87,6 % so với 2011 tăng 26,8 % (2011 là 60,8%). Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng được triển khai thực hiện với nhiều biện pháp đồng bộ có hiệu quả, hàng năm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ 1% đến 2% so với năm trước, chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em và Dân số KHHGĐ luôn được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và sự tham gia của các ban ngành, đoàn thể các cấp tại địa phương đã đạt một số kết quả tích cực; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm đều đạt dưới 1%. Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thấp còi chiều cao theo tuổi là 12,60%, giảm 0,52% so với năm 2011.

- Vvăn hóa: Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với phong trào xây dựng Nông thôn mới”. Xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa được quan tâm chỉ đạo. Đến nay toàn huyện có 278 /330 xóm văn hóa, chiếm 84,2 %. Có 85,6% hộ gia đình đạt gia đình văn hóa. Các xã đã tập trung chỉ đạo đầu tư hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ, như: đầu tư xây mới, nâng cấp, mua sắm trang thiết bị tại nhà văn hóa xóm.

         Làm tốt công tác bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, giữ gìn nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Hàng năm thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao từ huyện đến cơ sở, phong trào trở nên sôi nổi, sâu rộng và đều khắp tạo điều kiện cho nhân dân tiếp cận hưởng thụ đời sống văn hóa.

- Về môi trường: Công tác vệ sinh môi trường được quan tâm chỉ đạo thực hiện, môi trường nông thôn được cải thiện. Phong trào xây dựng hố rác tại gia, thu gom, phân loại và xử lý rác thải được các xã duy trì thường xuyên, đồng thời UBND huyện đã ban hành và triển khai kế hoạch vệ sinh môi trường, chỉnh trang thôn xóm, đô thị trên địa bàn toàn huyện và được mọi tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng. Đến nay 24/24 xã  đã hợp đồng với đơn vị dịch vụ môi trường để thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt đến khu liên hợp xử lý chất thải răn Nghi Yên, huyện Nghi Lộc để xử lý.

2.5. Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và gìn giữ an ninh, trật tự xã hội.

Về xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh:

Xác định việc xây dựng hệ thống tổ chức chính trị, xã hội ở cơ sở vững mạnh là nhiệm vụ then chốt vì chính quyền cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, gắn bó với nhân dân. Sau đại hội Đảng các cấp, UBND huyện đã tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016; hướng dẫn các các xã, thị trấn kiện toàn các chức danh thường trực HĐND, thành viên UBND sau bầu cử; thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng đại biểu HĐND huyện và các xã, thị trấn.

Hàng năm, theo hướng dẫn của Sở Nội vụ, UBND huyện đã ban hành các văn bản chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, UBND các xã, thị trấn tiến hành rà soát tiêu chuẩn chức danh, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã để xây dựng kế hoạch để cử đi đào tạo, bồi dưỡng về: Lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ, tin học và kiến thức cập nhật. Thực hiện kiện toàn đối với những cán bộ, công chức không đảm bảo tiêu chuẩn chức danh; chỉ đạo và tổ chức thi tuyển công chức cấp xã để bổ sung đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định.

Triển khai kịp thời, ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, UBND các xã, thị trấn và tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác đánh giá chính quyền cơ sở hàng năm theo quy định. Triển khai và thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua, qua đó đã phát huy được tính đoàn kết, nỗ lực phấn đấu trong mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Tăng cường công tác kiểm tra cải cách hành chính; kỷ luật kỷ cương hành chính, văn hóa công sở các cơ quan, đơn vị; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở cơ sở, xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh góp phần giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện.

Đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách, công chức xã, trên địa bàn huyện hiện có 533 cán bộ chuyên trách và công chức (trong đó: Cán bộ chuyên trách 243 người, công chức: 290 người). Trình độ các mặt: Chuyên môn: Trên đại học: 07 người, chiếm tỷ lệ 1,31%; Đại học: 330 người, chiếm tỷ lệ 61,91%; Cao đẳng: 21 người, chiếm tỷ lệ 3,93%, Trung cấp: 164 người, chiếm tỷ lệ 30,76%, Sơ cấp:....người, chiếm tỷ lệ 0 %. Trình độ chính trị: Từ trung cấp chính trị trở lên là 335 người, chiếm tỷ lệ 62,85 %, sơ cấp: 127 người, chiếm tỷ lệ 23,82%;

Tiêu chí về các tổ chức chính trị xã hội: 23/23 xã có đầy đủ các tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị xã hội theo quy định, đạt danh hiệu Đảng bộ “trong sạch vững mạnh: trong năm 2017, chính quyền đạt từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Các đoàn thể, chính trị, xã hội hàng năm đạt từ khá trở lên.

- Xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định.

- Đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình; bảo vệ và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình và đời sống xã hội.

Về công tác quốc phòng:

Thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Ban CHQS huyện đã làm tốt công tác tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện chỉ đạo lãnh đạo Đảng ủy, UBND, Ban CHQS các xã tổ chức, quán triệt, triển khai các Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Quân khu 4, Bộ CHQS tỉnh Nghệ an. Ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện tốt nhiệm vụ QS-QP địa phương.

Xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ “vững mạnh, rộng khắp” đúng theo Nghị định 03/2016/NĐ-CP và Thông tư 33/TT-BQP về quy định chi tiết một số điều của luật DQTV, bảo đảm đủ số lượng, đạt chất lượng. Lực lượng DBĐV được đăng ký và quản lý chặt chẽ, biên chế đủ cho các đơn vị nhận nguồn, thực hiện gọn địa bàn, tỉ lệ đúng và gần đúng chuyên môn kỹ thuật cao. Lực lượng DQTV, DBĐV hàng năm được tổ chức huấn luyện chặt chẽ theo đúng nội dung, chương trình, thời gian, đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Công tác giáo dục QP&AN được triển khai chặt chẽ hàng năm căn cứ vào chỉ tiểu trên giao Hội động GDQP&AN các cấp kiện toàn đúng thành phần quy định, tổ chức họp phân công, triển khai, xây dựng kế hoạch mở lớp và điều động các đối tượng bồi dưỡng kiến thức QP&AN bảo đảm đúng chỉ tiêu trên giao.

LLVT huyên luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng thực hiện tốt công tác canh trực SSCĐ ở các cấp tập trung thực hiện vào các dịp lễ, tết và những ngày cao điểm tình hình địa bàn phức tạp, công tác nắm tình hình và quản lý địa bàn chặt chẽ, xây dựng đầy đủ hệ thống văn kiện, kế hoạch SSCĐ của các cấp. Thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm theo Nghị định 77/2010/NĐ-CP, Nghị định 133/2015/NĐ-CP của Chính phủ; tổ chức tuần tra, kiểm tra giữ vững ổn định chính trị TTATXH trên địa bàn.

UBND huyện triển khai chỉ đạo làm tốt công tác tuyển quân, tuyển sinh quân sự hàng năm chặt chẽ, nghiêm túc từ khâu đăng ký độ tuổi 17, quản lý thanh niên trong độ tuổi nhập ngũ, phân bổ chỉ tiêu cho các địa phương, chỉ đạo sơ khám và khám tuyển, đồng thời chỉ đạo các đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền vận động do đó công tác tuyển quân, tuyển sinh quân sự luôn đạt kết quả cao, không có địa phương nào để thiêu chỉ tiêu nhập ngũ.

Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của LLVT huyện được triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, phong phú sinh động, đúng nguyên tác; phong trào thi đua trong LLVT huyện sôi nổi nhất là dịp kỷ niệm các ngày lễ; công tác khen thưởng và công tác chính sách với người có công được triển khai thực hiện đúng quy định của Đảng và Nhà nước chặt chẽ đúng người, đúng chế độ được hưởng, thường xuyên chăm lo công tác hậu phương quân đội.

Thực hiện tốt công tác quản lý VKTB và các phương tiện kỹ thuật cần cho Quân đội; làm tốt công tác quy hoạch và xây dựng các công tình chiến đấu trên địa bàn, kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng an ninh.

Về an ninh trật tự, xã hội:

Để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn các xã đạt hiệu quả, hàng năm Đảng ủy các xã có Nghị quyết, UBND các xã có kế hoạch về công tác đảm bảo an ninh, trật tự, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ Quốc. Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy và Kế hoạch của UBND các xã, Công an các xã đã chủ động xây dựng chương trình công tác năm nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng ủy và kế hoạch của UBND các xã. Đồng thời, triển khai thực hiện đầy đủ các chương trình, kế hoạch của Công an tỉnh, Công an huyện về việc đảm bảo ANCT và TTATXH trên từng địa bàn.

Phối hợp với công an huyện tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ chiến sĩ và quần chúng, nhân dân trên địa bàn các xã nhằm nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giữ gìn ANTT, ATXH để từ đó góp phần quan trọng cho việc thực hiện hoàn thành Chương trình xây dựng nông thôn mới tại các địa phương. Từ đó, tình hình an ninh trật tự xã hội được đảm bảo, ổn định, các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và các vi phạm pháp luật khác trên địa bàn đã được kiềm chế kéo giảm.

Đánh giá tiêu chí xã nông thôn mới: Đến nay toàn huyện có 23/23 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tỷ lệ 100%.

3. Kết quả thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới

3.1. Tiêu chí số 1 về Quy hoạch

a) Yêu cầu của tiêu chí:

Có quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện được phê duyệt.

b) Kết quả thực hiện tiêu chí:

Thực hiện Thông báo số 99/TB-VPCP ngày 25/5/2016 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Nghệ An; Công văn số 3643/UBND-TH ngày 30/5/2016 của UBND tỉnh Nghệ An thực hiện Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Nghệ An. UBND huyện Nam Đàn đã lựa chọn đơn vị tư vấn lập nhiệm vụ, lập đồ án Quy hoạch xây dựng vùng huyện Nam Đàn đến năm 2035. Sau khi được giao nhiệm vụ, đơn vị tư vấn đã khảo sát đánh giá hiện trạng tổng thể phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, các quy hoạch chuyên ngành liên quan làm cơ sở xây dựng đồ án quy hoạch xây dựng vùng huyện Nam Đàn.

+ Đến nay đồ án quy hoạch xây dựng vùng huyện Nam Đàn đến năm 2035 đã thực hiện các công việc khảo sát, phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội, hệ thống đô thị và điểm dân cư nông thôn, sử dụng đất đai, hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, môi trường và những yếu tố mang tính đặc thù của vùng; Xác định mục tiêu phát triển, tốc độ đô thị hóa, tính chất, tiềm năng và động lực phát triển vùng; Dự báo phát triển kinh tế, dân số, lao động, nhu cầu về đất đai, tỷ lệ đô thị hóa theo các giai đoạn phát triển 10 năm, 20 năm; Xác định các chỉ tiêu kỹ thuật theo mục tiêu phát triển; Định hướng phát triển không gian vùng; Định hướng hệ thống hạ tầng kỹ thuật cấp vùng như xác định mạng lưới, vị trí, quy mô các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật mang tính chất vùng hoặc liên vùng gồm: Chuẩn bị kỹ thuật, giao thông, phát triển điện lực, cung cấp năng lượng (khí đốt, xăng, dầu), cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải, quản lý chất thải rắn, nghĩa trang và hạ tầng viễn thông thụ động và đánh giá môi trường chiến lược. Ngoài ra còn khảo sát, đánh giá, định hướng quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp phù hợp với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển các trung tâm dịch vụ thương mại cấp huyện và dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp, sản xuất hàng hóa lớn, giữ nguyên các cụm công nghiệp đã được quy hoạch vùng phía Bắc của huyện và quy hoạch mới 01 cụm công nghiệp vùng phía Nam của huyện để đón đầu phát triển kinh tế của trục Nam Nghệ - Bắc Hà.

Đến nay nhiệm vụ quy hoạch vùng huyện Nam Đàn đến năm 2035 đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 6914/QĐ-UBND ngày 30/12/2016. Đồ án quy hoạch xây dựng vùng đã được HĐND huyện khóa XX thông qua tại kỳ học thứ 6 ngày 25/12/2017.

c) Tự đánh giá: Đạt

3.2. Tiêu chí số 2 về Giao thông

a) Yêu cầu của tiêu chí:

- Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đảm bảo kết nối tới các xã.

- Tỷ lệ km đường huyện đạt chuẩn theo quy hoạch 100%.

b) Kết quả thực hiện tiêu chí:

- Hệ thống giao thông của huyện Nam Đàn rất đa dạng gồm đường bộ, đường thủy, đường sắt trong đó đường bộ là loại hình giao thông huyết mạch phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của huyện.

- Trên địa bàn huyện có 04 tuyến đường Quốc lộ chiều dài 71,2 km (QL46, QL46B, QL46C, QL15) với quy mô cấp kỹ thuật từ cấp V đến cấp III đồng bằng, có 05 tuyến đường tỉnh chiều dài 26,1 km (ĐT 542D, ĐT540, ĐT539, ĐT539B, ĐT539C) với quy mô cấp kỹ thuật từ cấp VI đến cấp III đồng bằng, có 20 tuyến đường huyện chiều dài 138,2 km với quy mô cấp kỹ thuật từ cấp VI đến cấp IV đồng bằng và hệ thống đường xã, đường xóm tạo thành mạng lưới giao thông khá hoàn chỉnh đảm bảo kết nối từ trung tâm huyện đến 24 xã, thị trên địa bàn.

+ Các tuyến đường Quốc lộ, đường tỉnh được Cục quản lý đường bộ II và Sở Giao thông vận tải quản lý, khai thác, vận hành. Các tuyến đường trên được tổ chức duy tu bảo dưỡng thường xuyên, những hư hỏng lớn được phân bổ kinh phí để sửa chữa, nâng cấp đảm bảo đi lại thuận tiện cho nhân dân.

+ Trên các tuyến đường huyện cơ bản được đầu tư xây dựng bằng mặt đường nhựa, bê tông nhựa hoặc mặt đường bê tông xi măng. Hiện nay có 10 tuyến đã xuống cấp đang được đầu tư xây dựng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau gồm: Đường huyện ĐH03 (Tuyến Thị trấn – Vân Diên – Nam Thái), Tuyến ĐH04 (tuyến Thị trấn – Nam Thượng – Nam Tân), Tuyến ĐH08 (Tuyến Cồn Bụt – Nam Lĩnh), Tuyến ĐH10 (Tuyến vành đai phía Bắc), Tuyến ĐH17 (Tuyến cơ đê Năm Nam), Tuyến ĐH18 (Khánh Sơn – Phúc – Cường), Tuyến ĐH19, ĐH20, ĐH21, ĐH22 sẽ hoàn thành trong năm 2017.

+ Hệ thống cầu, cống trên các tuyến đường huyện được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn H30-XB80 đảm bảo thoát nước, các loại phương tiện tham gia giao thông và nhân dân đi lại được thuận tiện.

+ Hiện trạng đường thuỷ có 2 tuyến (Sông Lam, Sông đào) do Trung ương uỷ quyền cho địa phương quản lý khai thác sử dụng, cụ thể là:

* Sông Lam có chiều dài 50,8 km được lắp đặt hệ thống báo hiệu đảm bảo an toàn tạo điều kiện cho các phương tiện lưu thông vận chuyển cát sạn, gỗ, tre nứa và hành khách qua sông.

* Sông Đào có chiều dài 13 km được lắp đặt hệ thống báo hiệu đảm bảo an toàn tạo điều kiện cho các phương tiện lưu thông vận chuyển cát sạn tập kết tại bến Cầu Mượu phục vụ xây dựng cho thành phố Vinh và vùng phụ cận.

+ Huyện Nam Đàn có 3 bến đò chở khách qua sông (Nam Thượng, Khánh Sơn, Nam Trung) không có bến đò dọc sông. Số lượng thuyền chở khách 3 chiếc, người điều khiển phương tiện 6 người, đăng kiểm phương tiện 03 phương tiện, cấp chứng chỉ chuyên môn 06 người, các bến này đã được đầu tư xây dựng cơ bản hoàn chỉnh bao gồm đường lên xuống, nhà chờ, biển báo nội quy, biển niêm yết giá, các bến được Sở Giao thông vận tải cấp giấy phép hoạt động bến khách ngang sông trong năm 2015, 2016 theo Thông tư 50/2014/TT-BGTVT ngày 17/10/2014 của Bộ Giao thông Vận tải.

+ Có 01 bến xe khách đạt quy mô bến loại 3 với diện tích là 5.000m2. Trên các tuyến đường Quốc lộ 46, 46C, 15A, đường tỉnh 539B được bố trí các điểm dừng vận tải khách công cộng phục vụ 05 đơn vị vận tải hành khách bằng xe buýt khai thác tuyến.

Tỷ lệ đường huyện đạt chuẩn 100%, đảm bảo kết nối với hệ thống giao thông chung của huyện.

c) Tự đánh giá: Đạt

3.3. Tiêu chí số 3 về Thủy lợi

a) Yêu cầu của tiêu chí:

Hệ thống thủy lợi liên xã đồng bộ với hệ thống thủy lợi các xã theo quy hoạch.

b) Kết quả thực hiện tiêu chí:

Trong những năm qua, hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện, các xã được TW, Tỉnh, huyện quan tâm đầu tư, nâng cấp và xây mới theo đúng quy hoạch, kế hoạch, thiết kế được duyệt, tạo nên sự đồng bộ của hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện, từ công trình đầu mối đến hệ thống kênh mương, hệ thống tưới, tiêu nước đều được quản lý khai thác hiệu quả, đã đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt cho dân cư nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế chung trên địa bàn huyện.

Giai đoạn năm 2011 – 2017: Nâng cấp, tu sửa 85,9 km kênh mương, 17 trạm bơm, 11 hồ đập và hàng ngàn cống nội đồng, tổng kinh phí đã thực hiện là 147,5 tỷ đồng. Trên địa bàn huyện có 62 hồ chứa vừa và nhỏ, 95 trạm bơm, trong đó có 5 hồ chứa và 9 trạm bơm do Xí nghiệp thủy lợi Nam Đàn quản lý, còn lại là do các xã, HTX quản lý. Tổng chiều dài hệ thống kênh mương trên địa bàn là 522km, trong đó đã kiên cố được 381km đạt 73%, còn lại chưa kiên cố là 141 km, cấp nước phục vụ cho 8.784 ha đất nông nghiệp, tăng 1.139 ha so với năm 2011 (7.645ha). Trên địa bàn huyện 100% (23/23) xã đạt tiêu chí về thủy lợi.

c) Tự đánh giá: Đạt

3.4. Tiêu chí số 4 về Điện

a) Yêu cầu của tiêu chí:

Hệ thống điện liên xã đồng bộ với hệ thống điện các xã theo quy hoạch, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của cả hệ thống.

b) Kết quả thực hiện tiêu chí:

- Đường dây trung  thế:

          Trên địa bàn có 257 km đường dây trung thế, được lắp đặt đảm bảo các quy định của ngành điện, cụ thể:

+ Khoảng cách an toàn cho các tuyến đường dây đạt từ điểm thấp nhất của đường dây dẫn điện ở trạng thái võng cực, đại đến mặt đất; điện áp 35KV là 14m, 110KV là 15m, 220KV là 18m; hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không chiều rộng hành lang được gới hạn bởi hai mặt thẳng đứng về hai phía của đường dây, song song với đường dây, có khỏa cách từ dây ngoài cùng về mỗi phía khi dây ở trạng thái tĩnh điện áp 22KV dây bọc là 1,0m, dây tần là 2,0m, điện áp 35KV dây bọc là 1,5m, dây trần là 3,0m, điện áp 110KV dây trần là 4,0m, điện áp 220KV dây trần là 6,0m, điện áp 500KV dây trần là 7,0m  đảm bảo an toàn theo quy định.

+ Nguồn điện hiện tại 110KV Nam Đàn công suất 1x25MVA-110/35/22KV cấp điện cho các phu tải trên địa bàn huyện Nam Đàn và các vùng phụ cận huyện qua 2 lộ đường dây 35KV và 2 lộ đường dây 10KV giai đoạn 2016-220 nâng công suất trạm 110KV Nam Đàn lên (25+40)MVA- 110/35/22KV cấp điện cho các phủ tải tỉnh Nghệ An qua 7 lộ 35V và 3 lộ 22KV  cấp điện an toàn kỷ thuật trên địa bàn huyện Nam Đàn.

          - Trạm biến áp phân phối:

          + Được được lắp đặt theo quy hoạch, thiết kế theo quy chuẩn của ngành điện đảm bảo an toàn kỷ thuật cho việc vẫn hành quả lý của ngành điện.

Trên địa bàn toàn huyện có 255 trạm biến áp với tổng công suất trên 74.707 KVA, hệ thống cột, đường dây đã được đầu tư đạt chuẩn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt cũng như sản xuất kinh doanh.

          + Cột điện, móng cột, giá đỡ thiết bị đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện.

          - Đường dây hạ áp:

          Nhìn chung lưới điện hạ thế cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân tiêp tục hoàn thiện các chi tiêu về hạ tầng lưới điện trên địa bàn huyện có nguồn điện đảm bảo chất lượng, đảm bảo nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân trện địa bàn 24 xã thị.

+ Khoảng cách thẳng đứng nhỏ nhất 5,5m từ dây dẫn đến mặt đất tự nhiên và các công trình trong chế độ làm việc bình thường của đường dây đảm bảo an toàn theo quy định; Được lắp đặt nối đất lặp lại cho dây trung tính, nối đất vỏ thiết bị; Có biển báo an toàn.

          + Dây dẫn được lắp đặt trên sứ cách điện có xà đỡ sứ, an toàn về dẫn điện, cách điện và cơ học.

          + Cột điện, kết cấu hỗ trợ chịu lực, móng cột, xà giá đỡ được bảo vệ, chống gỉ, chống xói lở theo quy định.

          - Dây dẫn về hộ gia đình sau công tơ điện và công tơ điện:

          + Dây dẫn sau công tơ điện về hộ gia đình sử dụng loại dây bọc cách điện phù hợp với công suất tiêu thụ của các hộ, có cột đỡ trung gian và được treo an toàn theo quy định.

          + Công tơ điện: Sử dụng loại công tơ có kiểm định thời hạn, được kẹp chỉ niêm phong, có hòm bảo vệ công tơ và được treo trên cột hoặc tường nhà.

          + 100% hộ dân được ký hợp đồng mua bán điện với Điện lực Nam Đàn và điện lực Hưng Nguyên.

+ Điện trong nhà: Trong mỗi nhà đều có bảng điện tổng có cầu chì hoặc aptomat, công tắc, ổ cắm đặt cố định trên tường hoặc khung nhà, đảm bảo cách điện; Dây điện có vỏ cách điện được cố định trên tường, khung nhà hoặc chôn trong tường để đảm bảo an toàn cho sinh hoạt của mỗi hộ dân.

3.5. Tiêu chí số 5 về Y tế - Văn hóa – Giáo dục

a) Yêu cầu của tiêu chí:

- Bệnh viện huyện đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng 3; trung tâm y tế huyện đạt chuẩn quốc gia.

- Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện đạt chuẩn, có nhiều hoạt động văn hóa – thể thao kết nối với các xã có hiệu quả.

- Tỷ lệ trường trung học phổ thông đạt chuẩn  ≥ 60%.

b) Kết quả thực hiện tiêu chí

* Về Y tế:

Trong những năm qua UBND huyện đã tích cực phối hợp Sở y tế và các sở ngành liên quan chỉ đạo Bệnh viện, Trung tâm y tế thực hiện tốt các tiêu chí bệnh viện hạng III và Tiêu chí Trung tâm y tế đạt chuẩn. Bệnh viện đa khoa huyện đã được UBND tỉnh Nghệ An ra Quyết định công nhân đạt tiêu chuẩn Bệnh viện hạng III năm 1995. Trung tâm y tế  huyện hàng năm được Sở Y tế Xếp loại Xuất sắc. Sau khi sát nhập bệnh viện hạng III và Trung tâm y tế huyện, đặc biệt sau khi có Quyết định 558/QĐ-TTg và Thông tư 35/2016/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện tiêu chí huyện NTM,  UBND huyện tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị tại Trung tâm y tế để đảm bảo thực hiện tốt 2 chức năng y tế dự phòng và khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Năm 2017, huyện huy động nguồn lực đầu tư tu sửa, nâng cấp và xây dựng mới phòng khám bệnh và khối nhà chạy thận với số tiền 15 tỷ đồng. Song song với đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, Huyện ủy – UBND huyện trình Sở y tế, UBND tỉnh, Bộ y tế  cho chủ trương Trung tâm y tế huyện là đơn vị vệ tinh của Bệnh viện Bạch Mai, ngày 03/12/2017  UBND huyện đã Phối hợp với Sở Y tế tổ chức lễ công bố quyết định công nhân đơn vị vệ tinh.

Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị Y tế là: 21,9 tỷ đồng.

+ Tự đánh giá: Đạt chuẩn theo quy định

* Về Văn hóa:

Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện đạt chuẩn theo quy định của Thông tư 01/2010/TT-BVHTTDL ngày 26/02/2010 và Thông tư  11/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 của Bộ văn hóa thể thao và du lịch, cụ thể như sau:

 Trung tâm Văn hóa thông tin thể thao được quy hoạch với diện tích 6.235 m2, được xây dựng vào năm 1990, thiết kế gồm 1 hội trường có sức chứa 350 chỗ ngồi và  3 phòng làm việc, ngoài ra còn có 7 phòng làm việc của cán bộ trung tâm, thư viên, phòng đọc, phòng truyền thống.

Khu thể thao huyện với diện tích: 33.000 m2, bao gồm; Nhà thi đấu đa chức năng, sân vận động 16.000 m2 có bờ rào xây khán đài A – B đảm bảo phục vụ hoạt động TDTT cấp huyện.

Bộ máy nhân sự được bố trí đầy đủ đảm bảo cho hoạt động của Trung tâm, bao gồm 15 người, trong đó: 1 giám đốc, 2 phó giám đốc và cán bộ chuyên môn, trình độ đại học 14 người; trung cấp 01 người.

Thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy và Chương trình phát triển kinh tế xã hội hàng năm của huyện Trung tâm đã xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tổ chức mở các lớp năng khiếu nghệ thuật, các lớp đào tạo tài năng thể thao, tổ chức các cuộc hội thi, hội diễn, các giải thi đấu TDTT của huyện và hướng dẫn hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dụa thể thao cho cơ sở. Sưu tầm, bảo tồn các loại hình nghệ thuật dân gian, truyền thống, tổ chức hoạt động tác nghiệp chuyên môn, các hoạt động dịch vụ văn hóa thể thao đảm bảo đúng quy định của luật và đáp ứng nhu cầu của nhân dân.

Tổ chức tốt các hoạt động do tỉnh tổ chức và các sự kiện diễn ra trên địa bàn, như kỷ niệm các ngày lễ lớn, các lễ hội truyền thống của địa phương.

Hoạt động văn hóa văn nghệ tại Trung tâm Văn hóa – thể thao huyện diễn ra phong phú, đa dạng, duy trì tốt các câu lạc bộ như: Câu lạc bộ thơ, câu lạc bộ dân ca ví dặm xứ nghệ, câu lạc bộ dưỡng sinh, các CLB TDTT....

Hàng năm xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động kết nối với các xã, thị trấn trong toàn huyện như: Tổ chức lễ hội Đền Vua Mai, Lễ hội tiếng hát làng Sen và kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hội thi, hội thao....tạo phong trào sôi nổi và rộng khắp.

          Thư viện có diện tích 2.858 m2.  Hoạt động của Thư viên huyện khá tốt và đạt hiệu quả cao, có trên 13.500 bản sách, với 9.880 đầu sách. Hàng năm, thư viện được bổ sung gần 500 đầu sách, 15 đầu báo, tạp chí với kinh phí trên 9 triệu đồng, cấp mới 400 thẻ đọc và phục vụ trên 10.000 lượt bạn đọc, số sách luân chuyển bạn đọc trong năm khoảng 15.510 lượt, ngoài ra các xã đều có tủ sách pháp luật và phòng đọc, các xóm đều có tủ sách pháp luật, đáp ứng nhu cầu bạn đọc ở cấp huyện và cơ sở

          + Tự đánh giá: Đạt chuẩn theo quy định.

* Về Trường trung học phổ thông:

Trên địa bàn huyện có 5 trường trung học phổ thông, gồm: THPT Nam Đàn 1, THPT Nam Đàn 2, THPT Kim Liên, THPT Mai Hắc Đế, THPT Sào Nam. Đến nay có 3/5 trường đạt chuẩn quốc gia, gồm: THPT Nam Đàn 1, Nam Đàn 2 và Kim Liên, tỷ lệ 60% (đạt chuẩn theo quy định).

c) Tự đánh giá: Đạt

3.6. Tiêu chí số 6 về Sản xuất

a) Yêu cầu của tiêu chí:

Hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung; hoặc có mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, tổ chức liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ các sản phẩm chủ lực của huyện.

b) Kết quả thực hiện tiêu chí:

Trong những năm qua, UBND huyện đã tập trung chỉ đạo các xã xây dựng mô hình liên kết, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa như: mô hình liên kết với công ty giống cây trồng Trung ương 1 sản xuất giống lúa Thiên ưu 8 theo chuỗi giá trị tại 4 xã, gồm: Xuân Lâm 36 ha; Nam Phúc 25ha; Xuân Hòa 25ha; Nam Kim 22,36 ha; năng suất đạt 66 tạ/ha.

 Vụ Hè Thu 2017, UBND huyện đã chỉ đạo Trạm khuyến nông huyện phối hợp với các xã: Khánh Sơn, Nam Lĩnh, Xuân Lâm xây dựng 3 cánh đồng liên kết sản xuất nông nghiệp theo chuỗi với Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Nghệ An trên giống lúa NA2, năng suất đạt 66 tạ/ha và 2 mô hình sản xuất lúa ngắn ngày  Khang dân cải tiến tại  Nam phúc, Nam Anh, năng suất đạt 50 tạ/ha.

Liên kết với công ty giống cây trồng Bắc miền trung sản xuất giống lạc TK10 tại xã Khánh Sơn, quy mô 5 ha;  năng suất đạt 44 tạ/ha.

Hình thành vùng sản xuất liên kết rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap tại các xã: Nam Thanh, Xuân Hòa, Vân Diên, Nam Xuân, trong đó các hợp tác xã làm đầu mối.

c) Tự đánh giá: Đạt

3.7. Tiêu chí số 7 về Môi trường

a) Yêu cầu của tiêu chí:

- Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn trên địa bàn huyện đạt tiêu chuẩn.

          - Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường.

b) Kết quả thực hiện tiêu chí:

- Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn trên địa bàn huyện đạt tiêu chuẩn

Trong thời gian qua, huyện Nam Đàn đã ban hành các văn bản pháp lý, các chương trình, kế hoạch, hướng dẫn, chỉ đạo trong công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng. Đồng thời, đã tăng cường công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát,… góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện.

Giai đoạn 2010-2015, HĐND huyện đã ban hành Nghị quyết số 23/2009/NQ-HĐND ngày 31/12/2009 về bảo vệ môi trường huyện Nam Đàn giai đoạn 2010-2015; Huyện ủy ban hành Chỉ thị số 04-CT/HU ngày 13/01/2010 về việc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác bảo vệ môi trường; UBND huyện đã ban hành Chỉ thị số 06/2014/CT-UBND ngày 01/4/2014 về tăng cường công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn huyện Nam Đàn và Kế hoạch số 2419/KH-UBND ngày 30/12/2016 của UBND huyện quản lý chất thải rắn trên địa bàn huyện Nam Đàn năm 2017 có tính đến năm 2020; phòng Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Hướng dẫn số 97/HD-TNMT ngày 18/11/2016 về việc thu gom xử lý các loại bao gói thuốc BVTV sau sử dụng trên địa bàn các xã, thị trấn. Hiện nay, UBND huyện đang giao cho các phòng ngành xây dựng đề án bảo vệ môi trường huyện Nam Đàn giai đoạn 2018-2020, có tính đến 2025, dự kiến sẽ trình BTV Huyện ủy, HĐND huyện vào năm 2018 để thông qua và triển khai thực hiện.

Đến nay 24/24 xã  đã hợp đồng với đơn vị dịch vụ môi trường để thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt đến khu liên hợp xử lý chất thải răn Nghi Yên, huyện Nghi Lộc để xử lý.

Đối với rác thải y tế được Trung tâm y tế huyện và các trạm phân loại, thu gom và xử lý theo quy định.

Hệ thống thu gom, xử lý rác thải cơ bản đáp ứng nhu cầu xử lý rác thải trên địa bàn. Để xử lý triệt để rác thải trên địa bàn, huyện đang xúc tiến kêu gọi đầu tư xây dựng khu xử lý chất thải rắn tại vùng Lèn Dơi xã Khánh Sơn, đã được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết tại Quyết định số 4328/QĐ-UBND ngày 06/9/2014.

- Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường.

Các cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ trên địa bàn huyện đều có báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết; có đề án hoặc cam kết kế hoạch bảo vệ môi trường theo đúng quy định. Đối với các hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ thì ký cam kết vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường với xóm, xã. Các cơ sở sản xuất kinh doanh phát sinh lượng nước thải lớn đều đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung theo quy định như nhà máy Bia Sài Gòn Sông Lam, các nhà máy may công nghiệp, các trang trại chăn nuôi tập trung,…; các cơ sở phát sinh lượng nước thải ít và chủ yếu là nước thải sinh hoạt, các cơ sở này đều thu gom và xử lý bằng các bể tự hoại. Các cơ sở đều thực hiện việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn theo quy định: đối với rác thải sinh hoạt thì trực tiếp hợp đồng với đơn vị dịch vụ môi trường thu gom, vận chuyển xử lý hoặc hợp đồng với địa phương để thu gom, xử lý; đối với chất thải sản xuất, chất thải nguy hại được thu gom, lưu giữ theo quy định và hợp đồng đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển và xử lý.

Trên địa bàn huyện quy hoạch 4 cụm công nghiệp, tuy nhiên hiện nay chỉ có cụm công nghiệp Nam Giang đã và đang hoạt động. Cụm công nghiệp Nam Giang đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung của cụm; trong đó cụm công nghiệp Nam Giang có 2 cơ sở may mặc đều đã có hồ sơ, thủ tục về môi trường, có hệ thống xử lý nước thải trước khi đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải của cụm công nghiệp.

Trên địa bàn huyện có 3 trang trại chăn nuôi lợn công nghiệp với quy mô mỗi trại đều trên 1.000 nái sinh sản; ngoài ra còn có các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô nhỏ và các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ. Các trang trại đều đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận bản cam kết/kế hoạch bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi. Hầu hết các trang trại chăn nuôi sử dụng hầm biogas, hố ủ phân khô, các chế phẩm vi sinh xử lý môi trường nên đã giảm thiểu được ô nhiễm môi trường. Đồng thời, các trang trại đã thực hiện các quy định về vệ sinh thú y, phòng ngừa dịch bệnh và ký cam kết đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong chăn nuôi.

Huyện Nam Đàn có 4 làng nghề được tỉnh công nhận làng có nghề, các làng nghề đều đã có hồ sơ, thủ tục về môi trường; các hộ gia đình sản xuất trong làng nghề đã ký cam kết với địa phương về đảm bảo vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường trong sản xuất. Làng nghề bún bánh Quy Chính xã Vân Diên đang được Hội nông dân tỉnh hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, năm 2018 sẽ hoàn thành công trình và đưa vào sử dụng.

c) Tự đánh giá: Đạt

3.8. Tiêu chí số 8 về An ninh, trật tự xã hội

a) Yêu cầu của tiêu chí:

Đảm bảo an toàn an ninh, trật tự xã hội

b) Kết quả thực hiện tiêu chí:

Hàng năm Huyện ủy có Nghị quyết, UBND huyện có kế hoạch về công tác an ninh, trật tự; kết quả chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc.

Không để xẩy ra tình trạng khiếu kiện đông người kéo dài; khiếu kiện vượt cấp trái pháp luật, như: Lôi kéo, tụ tập nhiều người cùng đến các cơ quan, trụ sở, doanh nghiệp hoặc cá nhân để đưa đơn, thư khiếu nại, tố cáo, yêu cầu giải quyết một việc hoặc nhiều vấn đề về quyền lợi bị vi phạm hay có liên quan đến việc thực thi chính sách, pháp luật, môi trường, quản lý sử dụng đất đai... gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội; các vụ việc này đã được giải quyết đúng chính sách, pháp luật nhưng vẫn tụ tập khiếu kiện đông người, khiếu kiện không đúng thẩm quyền, vượt cấp trái pháo luật hoặc chưa được giải quyết theo đúng quy định về thời hạn khiếu kiện, tố cáo.

          Không có tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội; các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật khác có được kiềm chế, giảm so với các năm trước.

c) Tự đánh giá: Đạt

3.9. Tiêu chí số 9 về Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới

a) Yêu cầu của tiêu chí:

- Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp huyện được kiện toàn tổ chức và hoạt động đúng quy định.

- Văn phòng Điều phối Chương trình nông thôn mới cấp huyện được tổ chức và hoạt động đúng quy định.

b) Kết quả thực hiện tiêu chí:

- Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện Nam Đàn được thành lập tại quyết định số 2280/QĐ-UBND ngày 16/9/2010 do đồng chí Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban; Sau đó được kiện toàn tại quyết định số 2614/QĐ-UBND ngày 15/10/2010 của UBND huyện. Đồng thời UBND huyện ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo tại quyết định số 2613/QĐ-UBND ngày 15/10/2010. Trong quá trình thực hiện Ban chỉ đạo bám quy chế để hoạt động và thường xuyên được kiện toàn khi có thay đổi về nhân sự. Quyết định kiện toàn Ban chỉ đạo mới nhất là quyết định số 6456/QĐ-UBND ngày 11/10/2017 của UBND huyện.

Ban chỉ đạo phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên chỉ đạo tại các xã và theo lĩnh vực phụ trách.

- Văn phòng nông thôn mới được thành lập tại quyết định số 2665/QĐ-UBND ngày 15/4/2013 của UBND huyện và được kiện toàn thay thế bằng quyết định số 351/QĐ-UBND ngày 29/01/2015 theo đúng quy định tại quyết định số 1996/QĐ-TTg ngày 4/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Văn phòng điều phối nông thôn mới các cấp. Văn phòng nông thôn mới có 4 người, Chánh văn phòng là Phó Chủ tịch UBND huyện, Trưởng phòng NN&PTNT là phó chánh văn phòng, 02 chuyên trách là chuyên viên phòng NN&PTNT. Văn phòng nông thôn mới hoạt động theo quy chế.

- Ngoài ra hàng năm UBND huyện thành lập các tổ công tác chỉ đạo trực tiếp tại các xã đăng ký về đích trong năm, nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện cho các địa phương và báo cáo Ban chỉ đạo có giải pháp chỉ đạo kịp thời, phù hợp với từng xã. Từ năm 2015 đến nay thành lập 20 tổ công tác.

c) Tự đánh giá: Đạt

V. Đánh giá chung

1. Những mặt đã làm được

Nhìn chung, Chương trình đã được triển khai thực hiện đồng bộ, chủ động và quyết tâm, quyết liệt. Nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng nông thôn mới ngày được nâng lên, thể hiện rõ tinh thần và trách nhiệm trong tham gia xây dựng nông thôn mới. Trên địa bàn huyện, phong trào thực sự đi vào ý thức của mỗi người dân và tạo đà cho các địa phương đẩy nhanh xây dựng và phát triển kinh tế xã hội chung trên địa bàn. Không khí thi đua xây dựng nông thôn mới lan toả rộng khắp, nhân dân tự nguyện đóng góp công sức, tiền của, hiến đất, tháo dỡ tường rào...để xây dựng nhà văn hóa xóm, mở rộng các trục đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, lưới điện phục vụ cho sản xuất.

Sau 7 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, đến nay huyện có 23/23 xã đã được UBND tỉnh Nghệ An công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới; huyện đạt 9/9 tiêu chí huyện nông thôn mới theo Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Công tác quy hoạch được huyện thực hiện kịp thời phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương; công bố, công khai rộng rãi quy hoạch, tới người dân và công tác quản lý, thực hiện đảm bảo theo quy hoạch được phê duyệt.

Cơ sở hạ tầng ở nông thôn được phát triển mạnh, đồng bộ, bộ mặt nông thôn khởi sắc, tạo tiền đề phát triển kinh tế xã hội. Các tuyến đường giao thông nông thôn được đầu tư bê tông xi măng, cấp phối sỏi sạch sẽ, mạng lưới chợ được thực hiện đầu tư xây mới, nâng cấp góp phần phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh dịch vụ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và mức độ hưởng thụ của người dân. Hệ thống lưới điện được chỉnh trang, nâng cấp đảm bảo cung ứng điện thường xuyên và an toàn phục vụ tốt nhu cầu về sản xuất và dân sinh của người dân.

Tình hình sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, nhận thức của nông dân đã từng bước chuyển biến sang tư duy sản xuất hàng hóa, các chỉ tiêu về năng suất, sản lượng các loại cây trồng đều đạt và vượt kế hoạch. Kinh tế khu vực nông thôn đã có bước chuyển dịch tích cực, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ phát triển.

Ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong sản xuất có nhiều tiến bộ. Năng suất, chất lượng cây trồng tăng lên đáng kể, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với quy hoạch, nâng cao giá trị thu nhập trên 01 đơn vị diện tích.

Thu nhập bình quân đầu người của huyện năm 2016 là 32 triệu động/người/năm; năm 2017 là 36 triệu đồng/người/năm, tăng 2,06 lần so với năm 2010 ( năm 2010 là 17,5 triệu đồng/người/năm). Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,5% so với năm 2016 là 4,0%.

Hệ thống chính trị được tổ chức và củng cố ngày càng vững mạnh, cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng cả về chuyên môn và lý luận chính trị, đáp ứng tốt yêu cầu công việc. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; xây dựng lực lượng dân quân, quốc phòng địa phương vững mạnh.

2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.1. Tồn tại, hạn chế

- Quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới bước đầu còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn, tiến độ thực hiện còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

- Việc xây dựng các cánh đồng mẫu lớn, liên doanh liên kết chưa được nhiều, chưa có các sản phẩm để trở thành hàng hóa lớn; việc đầu tư của doanh nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế, mô hình sản xuất còn nhỏ lẻ.

          - Khu xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn của huyện được quy hoạch nhiều năm nhưng chưa kêu gọi được doanh nghiệp đầu tư. Việc đầu tư xây dựng nhà máy nước sạch theo đề án được phê duyệt chưa thực hiện được.

2.2. Nguyên nhân

- Thực hiện xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, cũng như kinh tế trong nước, ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư cho chương trình.

          - Đời sống của người dân ở nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, xuất phát điểm của huyện thấp, ngân sách địa phương hạn hẹp, việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn.

          - Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể, ban đầu hệ thống văn bản hướng dẫn chỉ đạo thực hiện của các bộ, ngành chưa thực sự thống nhất, phải điều chỉnh nhiều lần, quá trình thực hiện tại địa phương vừa làm vừa rút kinh nghiệm.

          - Nguồn vốn đầu tư trực tiếp cho chương trình là rất hạn chế, trong khi đó kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này gặp khó khăn, việc huy động nguồn vốn chủ yếu từ nội lực của địa phương và huy động đóng góp của nhân dân là khá lớn nhưng không đủ đáp ứng yêu cầu của chương trình.

3. Bài học kinh nghiệm

Một là Có sự lãnh đạo quyết liệt, trực tiếp của cấp ủy đảng các cấp; Sự vào cuộc ngay từ ngày đầu của cấp ủy đảng nhất là cấp ủy các xã. Tuy không có hướng dẫn nhưng Huyện ủy đã thống nhất chủ trương và chỉ đạo các xã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới ngay từ ngày đầu triển khai chương trình, BCĐ xã do đồng chí Bí thư đảng ủy làm trưởng ban do vậy đã phát huy được trách nhiệm của cấp ủy và tạo được sức mạnh của cả hệ thống chính trị.

Hai là Đặc biệt quan tâm và làm tốt công tác tuyên truyền và vận động nhân dân trong quá trình thực hiện; làm tốt chỉ đạo Đài Truyền thanh -Truyền hình huyện, đài truyền thanh các xã, cập nhật chủ trương, kế hoạch, bám nhiệm vụ cụ thể viết tin, đăng tải những hình ảnh điển hình trong xây dựng Nông thôn mới; giành nhiều thời lượng để phát trên hệ thống. Thành lập các tổ vận động tại các xã, xóm để trực tiếp vận động nhân dân chung sức xây dựng Nông thôn mới. Tổ chức nhiều đợt ra quân XDNTM; phát động, vận động nhân dân tự giác góp công sức thực hiện các nội dung, tiêu chí cần ít vốn như xây dựng nếp sống văn hóa, vệ sinh môi trường thôn xóm, thu gom và xử lý rác thải tại gia, giải tỏa, bảo vệ hành lang an toàn giao thông thôn xóm…

Ba là: Hàng năm xây dựng kế hoạch thực hiện các nội dung, tiêu chí toàn huyện và tại từng xã, giao chỉ tiêu các tiêu chí, nội dung xã phải thực hiện trong năm; phân công các ngành căn cứ nội dung thuộc lĩnh vực quản lý bám xã để chỉ đạo, giúp đỡ trong quá trình thực hiện. Đối với các xã xác định về đích trong năm huyện thành lập các tổ công tác, thành viên gồm lãnh đạo các phòng có kinh nghiệm, các phòng còn tiêu chí chưa đạt để trực tiếp chỉ đạo tại các xã, kiểm tra, đôn đốc, bổ cứu, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Bốn là:  Quyết liệt, nghiêm túc trong chỉ đạo, chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, phát động cho các xã đăng ký, cam kết thực hiện các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới trong năm, coi kết quả thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch của xã để đánh giá, xếp loại thi đua cuối năm, do vậy đã tạo phong trào thi đua để các xã phấn đấu thực hiện.

V. Kế hoạch nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mi

1. Quan điểm

Tiếp tục xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện, đồng bộ trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh; gắn chặt với quy hoạch vùng huyện được phê duyệt nhằm phát triển nông thôn mới trong một không gian hài hòa, bền vững.

Xây dựng, phát triển nông thôn mới gắn chặt với thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất hàng hóa lớn, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch, gắn phát triển nông thôn với phát triển đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa quê hương, môi trường nông thôn được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới một cách toàn diện, tiếp tục thực hiện xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.

2. Mục tiêu

Giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới đã đạt; tập trung thực hiện xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu. Phấn đấu đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, huyện Nam Đàn trở thành huyện nông thôn mới kiểu mẫu trước năm 2025.

 3. Nội dung nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới

3.1. Quy hoạch

Trên cơ sở quy hoạch vùng huyện và các quy hoạch chi tiết, quy hoạch ngành đã được phê duyệt, tiếp tục rà soát, bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với từng xã và trên địa bàn toàn huyện. Công bố, công khai quy hoạch một cách rộng rãi để nhân dân biết và thực hiện.

3.2. Giao thông

Tiếp tục đầu tư các tuyến đường giao thông nông thôn. Phấn đấu đến năm 2020: Đường trục chính của xóm được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt 100%; Đường ngõ xóm được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt trên 90%, phần còn lại được duy trì cứng hoá, đảm bảo ngõ xóm sạch, không lầy lội vào mùa mưa; Đường trục chính nội đồng có tỷ lệ nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt tỷ lệ 50%, phần còn lại được duy trì cứng hoá, xe cơ giới đi lại thuận tiện. Các tuyến đường trục chính trong khu dân cư đảm bảo sáng, xanh, sạch, đẹp.

 Tiếp tục nâng cấp, duy tu sửa chữa các tuyến đường huyện, đảm bảo 100% đường huyện được nhựa hóa, bê tông hóa đạt chuẩn theo quy định.

3.3. Thủy lợi

Xây dựng hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ dân sinh. Đến năm 2020, 100%  kênh mương chính nội đồng và mương nhánh được kiên cố hóa. Thường xuyên tu sửa, nâng cấp trạm bơm, hồ đập đảm bảo luôn đáp ứng tưới và tiêu chủ động.

3.4. Điện nông thôn

Xây dựng, chỉnh trang hoàn thiện hệ thống điện đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn huyện. Tiếp tục duy trì và nâng cao tỷ lệ hộ dùng điện 100% đảm bảo an toàn. Xây dựng hoàn thiện hệ thống điện đến các khu chăn nuôi, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mở mới trên địa bàn.

3.5. Giáo dục

          Tiếp tục phối hợp với các ngành và các địa phương trong thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.

          Tiếp tục triển khai thực hiện quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo và kế hoạch xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục, chuẩn hoá cơ sở vật chất trường học... góp phần đáp ứng các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới kiểu mẫu thuộc lĩnh vực giáo dục.

          Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS ở 100% số xã, thị trấn. Duy trì tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào học lớp 10, trung học phổ thông, bổ túc đảm bảo đạt tỷ lệ theo quy định của tiêu chí nông thôn mới.

3.6. Y tế

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động  của tuyến xã đảm bảo kế hoạch được thực hiện theo đúng tiến độ, đạt hiệu quả. Duy trì, giữ vững 100% xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế và 100% xã có bác sỹ khám chữa bệnh.

Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn, kiểm tra việc thực hiện kỷ cương, đạo đức công vụ, việc thực hiện cam kết đổi mới tinh thần thái độ phục vụ, xây dựng các cơ sở khám, chữa bệnh xanh, sạch, đẹp hướng tới sự hài lòng của người bệnh.

Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở từ huyện đến xã, xây mới và nâng cấp mở rộng 7 trạm y tế xã, giai đoạn 2018 - 2020. Thực hiện đầy đủ các chức năng về y tế dự phòng, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng.

Kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản thiết yếu ở các tuyến, mở rộng dịch vụ tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh. Huy động các ngành, các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị- xã hội và cộng đồng tham gia công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi.

3.7. Cơ sở vật chất văn hóa

Duy trì và nâng cao chất lượng về cơ sở vật chất văn hóa như: Nhà văn hóa xã, nhà văn hóa các xóm, sân thể thao xã và xóm, thiết chế văn hóa. Đảm bảo 23/23 xã có cơ sở vật chất văn hóa đạt chuẩn của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch.

3.8. Sản xuất:

Tiếp tục duy trì liên kết với các doanh nghiệp để sản xuất lúa giống trên cây lúa, đồng thời mở rộng ra các vùng khác có điều kiện canh tác.

Đối với rau màu tiếp tục hoàn thiện quy trình sản xuất mở rộng diện tích các vùng đã được cấp chứng chỉ VietGAP.

3.9. Môi trường

Tiếp tục chỉ đạo các xã quan tâm công tác vệ sinh môi trường, đảm bảo môi trường nông thôn luôn thoáng, sạch sẽ, nước thải và chất thải luôn được thu gom và xử lý theo quy định. Xây dựng và nhân rộng các mô hình xóm Sáng – xanh – sạch – đẹp.

3.10. Đào tạo nghề

Tiếp tục đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giải quyết việc làm, nâng cao tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo.

3.11. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của chính quyền, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phấn đấu đạt trong sạch vững mạnh. Tích cực chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

3.12. An ninh, quốc phòng

Xây dựng tổ tự quản, ban hành quy chế, hương ước làng xã, xây dựng cụm tuyến ATLC - SSCĐ. Giải quyết dứt điểm các đơn thư khiếu nại tố cáo, không để xẩy ra tình trạng khiếu nại tố cáo kéo dài, sự việc nổi cộm, điểm nóng và trọng án xẩy ra trên địa bàn, giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

4. Tổ chức thực hiện.

4.1. Ban Chỉ đạo các cấp xây dựng kế hoạch, nội dung cụ thể trong lãnh đạo, chỉ đạo đối với việc thực hiện Chương trình nông thôn mới nhất là công tác kiểm tra, giám sát, nhằm kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc, giải quyết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan chức năng để giải quyết. Phân công, phân nhiệm cụ thể từng thành viên Ban Chỉ đạo phụ trách địa phương, địa bàn để chủ động theo dõi chỉ đạo thực hiện.

4.2. Các phòng, ngành cấp huyện căn cứ chức năng, nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch cụ thể và chủ động phối hợp với các ngành liên quan, các xã, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao nhất là công tác hướng dẫn, giúp các địa phương trong tổ chức thực hiện Chương trình.

Đề nghị Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch cụ thể tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên tự giác, tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, tiếp tục có kế hoạch thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện những nội dung có liên quan đến xây dựng nông thôn mới.

          Nơi nhận:

            - BCĐ, VP ĐP NTM TW;

            - BCĐ,VP ĐP NTM tỉnh;

            - TT HU, HĐND – UBND huyện;

            - TV BCĐ NTM huyện;

            - Lưu VT.UBND.

TM.ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

 

(Đã ký)

 

Đinh Xuân Quế

 

 

 

 

 

BIỂU TỔNG HỢP

KẾT QUẢ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ HUYỆN NÔNG THÔN MỚI
H
uyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
(Kèm Báo cáo số:2637/BC-UBND ngày 14/12/2017 của UBND huyện Nam Đàn)

TT

Tên tiêu chí

Nội dung tiêu chí

Chỉ tiêu

Kết quả thực hiện

Kết quả tự đánh giá của huyện

1

Quy hoạch

Có quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện được phê duyệt

Đạt

Đạt

Đạt

2

Giao thông

2.1. Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đảm bảo kết nối tới các xã

Đạt

Đạt

Đạt

2.2. Tỷ lệ km đường huyện đạt chuẩn theo quy hoạch

100%

100%

Đạt

3

Thủy lợi

Hệ thống thủy lợi liên xã đồng bộ với hệ thống thủy lợi các xã theo quy hoạch

Đạt

Đạt

Đạt

4

Điện

Hệ thống điện liên xã đồng bộ với hệ thống điện các xã theo quy hoạch, đảm bảo yêu cầu kỹ; thuật của cả hệ thống

Đạt

Đạt

Đạt

5

Y tế - Văn hóa - Giáo dục

5.1. Bệnh viện huyện đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng 3; Trung tâm y tế huyện đạt chuẩn quốc gia

Đạt

Đạt

Đạt

5.2. Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện đạt chuẩn, có các hoạt động văn hóa - thể thao phù hợp kết nối với các xã có hiệu quả

Đạt

Đạt

Đạt

5.3. Tỷ lệ trường Trung học phổ thông đạt chuẩn

≥ 60%

60%

Đạt

6

Sản xuất

Hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung; hoặc có mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, tổ chức liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ các sản phẩm chủ lực của huyện

Đạt

Đạt

Đạt

7

Môi trường

7.1. Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rn trên địa bàn huyện đạt tiêu chuẩn

Đạt

Đạt

Đạt

7.2. Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường


100%

100%

Đạt

8

An ninh, trật tự XH

Đảm bảo an toàn an ninh, trật tự xã hội

Đạt

Đạt

Đạt

9

Chỉ đạo xây dựng NTM

9.1. Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp huyện được kiện toàn tổ chức và hoạt động đúng quy định

Đạt

Đạt

Đạt

9.2. Văn phòng ĐP Chương trình NTM cấp huyện được tổ chức và hoạt động đúng quy định

Đạt

Đạt

Đạt

 

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  >  >>
 
 
 
 
 
Lịch Làm việc
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu