Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Doanh nghiệp
Skip portletPortlet Menu
 
Du khách
Skip portletPortlet Menu
 
Văn thơ Nam Đàn
Skip portletPortlet Menu
 
liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
Thành tựu nền kinh tế huyện Nam Đàn có bước phát triển (25/05/2011 05:32 PM)

Trong những năm qua phát huy thuận lợi và từng bước khắc phục khó khăn với sự nỗ lực phấn đấu, tập trung cao trong lãnh đạo, chỉ đạo và sự chủ động của nhân dân cả huyện nên tình hình kinh tế, xã hội huyện Nam Đàn có bước phát triển khá.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005-2010 là  9,05% năm.

- Giá trị sản xuất tăng từ  1.081.569  triệu đồng năm 2005 (giá hiện hành), đến năm 2010 là  2.600.690 triệu đồng (giá hiện hành).

- Giá trị tăng thêm (GTTT) tăng từ  369.779 triệu đồng năm 2005 lên 548.198 triệu đồng năm 2010 (theo giá CĐ năm 1994) và đến năm 2010 là 1.356.452 triệu đồng (theo giá hiện hành). Bình quân GTTT trên đầu người tăng từ  2,33 triệu đồng năm 2005 lên 3,19 triệu đồng năm 2009 (theo giá CĐ 1994) và năm 2010 là  3,5 triệu đồng (theo giá CĐ 94) 8,66 triệu đồng theo giá hiện hành.

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng:

+ Nông - lâm - ngư nghiệp năm 2005 chiếm  62,56 %, năm 2009 chiếm  56,99 %, năm 2010 chiếm 54,43%.

+ Công nghiệp - xây dựng năm 2005 chiếm 15,47%, năm 2009 chiếm  19,94%, năm 2010 chiếm 21,8 %.

+ Dịch vụ năm 2005 chiếm 21,97%, năm 2009 chiếm 23,07%, năm 2010 chiếm 23,77%.

1. Sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp:

Thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp  theo hướng chuyển từ độc canh trồng cây lúa sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá huyện Nam Đàn  đã tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây con, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ - cây trồng, hình thành các vùng sản xuất rau an toàn, hoa cây cảnh, cải tạo vườn tạp, phát triển mạnh nghề nuôi trồng thuỷ sản, trang trại, vườn đồi. Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiêp trên địa bàn năm 2005 đạt  356.756 triệu đồng (giá năm 1994), năm 2009 là 449.072 triệu đồng (theo giá CĐ 94) vằ năm 2010 là 468.513 triệu đồng (giá năm 1994).

Tốc độ tăng trưởng bình quân trên địa bàn năm  2005 là  5,8%, giai đoạn 2005-2010 là  4,7%/năm.

Tính trong giai đoạn 2005-2010, một số sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp huyện Nam Đàn quản lý đã có bước chuyển biến theo định hướng chuyển dịch cơ cấu phù hợp và bễn vững:

- Sản lượng lương thực năm 2005 là 84.261 tấn, năm 2010 là 84.000tấn.

- Sản lượng lúa năm 2005 là  65.689 tấn tăng  lên 79.231 tấn năm 2010.

- Sản lượng cá thịt tăng từ  3.396 tấn năm 2005 lên 5.014  tấn năm 2010.

- Sản lượng thịt các loại tăng từ  6.582 tấn năm 2005 lên 10.210 tấn năm 2010.

2. Sản xuất công nghệp - xây dựng:

Sản xuất công nghiệp - xây dựng qua 5 năm có bước phát triển khá. Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2005 là 295.572 triệu  đồng, năm 2009 là 504.388 triệu đồng, đến năm 2010 là  658.818 triệu đồng (giá CĐ 1994), riêng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2005 đạt  73.305 triệu đồng chiếm 24.80%, năm 2010 đạt 223.519 triệu  đồng chiếm tỷ trọng 33,94%.

Tốc độ tăng trưởng bình quân trên địa bàn giai đoạn  2005 - 2010 là 9,05%/năm.

- Trong các loại hình kinh tế ngoài Quốc doanh, phần lớn các Công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân hoạt động ổn định và phát triển. Kể từ khi Luật doanh nghiệp ra đời, kèm theo một số loại giấy phép được bãi bỏ, số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập mới tăng lên và chủng loại sản phẩm cũng đa dạng hơn. Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm 2005 là  đến 2010 là 81doanh nghiệp.

- Đối với các HTX sau khi chuyển đổi và đăng ký lại (theo NĐ 16/CP của Chính phủ) nhìn chung chuyển biến còn chậm, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, thu nhập của xã viên thấp. Tổng số HTX  nông nghiệp trên địa bàn hiện nay là  36 HTX, số HTX tín dụng là 5 HTX.

- Số hộ cá thể chuyên kinh doanh sản xuất TTCN chiếm số lượng tương đối lớn và phát triển ổn định. Năm 2005 là 1.482 hộ, năm 2009 là 1.934 hộ, năm 2010 khoảng 2.000 hộ. Sản xuất chủ yếu trong các ngành: chế biến nông sảng, thực phẩn, chế biến gỗ, đồ mộc, phế liệu, may mặc, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng. Riêng sản xuất vật liệu xây dựng có chiều hướng giảm.

Chỉ tính trong giai đoạn 2005-2010, một số sản phẩm huyện Nam Đàn quản lý đã có mức tăng trưởng khá như:

- Khai thác cát 475.730 m3 năm 2005, năm 2010 đạt 1.100.000m3.

- Khai thác đất 42.100m3 năm 2005, năm 2010 đạt 470.000m3.

- Tương các loại tăng từ 420.000 lít năm 2005 lên 472.000  lít năm 2009, 500.000 lít năm 2010.

- Gạch các loại năm 2005 là 41.960.000  viên, năm 2010 là  1.000.000.000 viên.

- Cửa nhôm, sắt các loại tăng từ  8.591 m2 năm 2005 lên  15.000 m2 năm 2010.

- Đồ mộc tăng từ  8.900 SP năm 2005 lên 9.000 SP năm 2010.

- Gỗ thành phảm tăng từ 3.209 m3 năm 2005 lên 8.900 m3 năm 2010.

3. Dịch vụ :

Lĩnh vực dịch vụ phát triển đa dạng. Tốc độ tăng trưởng bình quân trên địa bàn qua 5 năm 2005 - 2010 là 11,15 %/năm. Giá trị sản xuất năm 2005 đạt 125.495 triệu đồng, năm 2010 đạt  226.229 triệu đồng (giá CĐ 1994).

Nhìn chung, hàng hoá cung ứng trên thị trường tương đối phong phú, nhất là hàng tiêu dùng thiết yếu. Các hoạt động dịch vụ đều có mức tăng trưởng khá. Các đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại và du lịch tăng trưởng mạnh và khá đa dạng, đặc biệt là số hộ kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, tăng từ 2.780 hộ năm 2005 lên  3.884 hộ năm 2009 và 4.000 hộ năm 2010. Mạng lưới thương mại, dịch vụ phát triển khá nhanh cả về số lượng, quy mô và chất lượng. Thương nghiệp ngoài quốc doanh phát triển nhanh, đảm bảo nắm được  80-90 % lưu chuyển hàng hoá bản lẻ và gần   95% lưu chuyển bán buôn. Tính riêng giá trị hàng hoá bán lẻ trên thị trường năm 2005 là 128 triệu đồng, năm 2010 đạt 395 triệu đồng.

Cơ sở vật chất ngành dịch vụ, thương mại và du lịch được tăng cường. Hệ thống bưu chính viễn thông và các loại hình dịch vụ ngân hàng phát triển, từng bước được hiện đại hoá. Cơ sở vật chất các ngành như nhà hàng, nhà nghỉ,  dịch vụ, du lịch và vận tải được tăng thêm.

Hoạt động kinh doanh đa dạng và có hiệu quả đã góp phần giải quyết được việc làm cho nhiều người lao động, tăng thu ngân sách và tác động tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế  của huyện Nam Đàn.

4. Kinh tế - Đầu tư:

Được sự giúp đỡ của Trung ương và Tỉnh, thời gian qua huyện Nam Đàn đã tranh thủ được nguồn vốn chuyển đổi  xây dựng Nhà máy nước sạch Thị Trấn Nam Đàn, Trường THCS Kim Liên, Trường THPT Kim Liên Nhà văn hóa Kim Liên, Hệ thống tiêu úng 5 nam, Đường giáo thông từ Khu di tích Kim Liên nối Khu di tích cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong, Trung tâm Huấn luyện cộng đồng Nam Đàn.

Ngoài ra còn thu hút được các dự án đầu tư vào các cụm công nghiệp nhỏ đã có các nhà đầu tư vào triển khai xây dựng nhà máy sản xuất dăm gỗ Thanh Hoà với mức đầu tư 25 tỷ đồng tại cụm công nghiệp Nam Thái. Công ty TNHH Haivina Kim Liên mức đầu tư 99.595 triệu đồng, Công ty Hanosimex Nam Đàn mức đầu tư 120.000 triệu đồng tại Cụm công nghiệp nhỏ Nam Giang, Công ty Đại Thành Lộc đầu tư 100.000 triệu đồng tại xã Nam Hưng trang trại Chăn nuôi và du lịch sinh thái...

Việc thu hút các dự án đầu tư trên địa bàn như Nhà máy nước cầu bạch Cầu Bạch với tổng mức đầu tư 320 tỷ đồng, tại xã Nam Giang... đã tạo nhiều việc làm trên địa bàn và nên diện mạo mới của huyện Nam Đàn, trong tương lai sẽ là huyện điểm về Nông thôn mới của cả nước.

 Lê Văn Quý


 |  Đầu trang
 
 
 
 
 
 
Lịch Làm việc
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu